CUỘC XÂM LƯỢC CỦA HOA VĂN TRONG TIẾN TRÌNH ZOMBIE HÓA

I. Hội chứng cuồng hoa văn: bạn đồng hành của đại dịch zombie hóa?

Việt Nam có đang rơi vào một tiến trình zombie hóa hay không? Tôi tin là có. Hiếm có dân tộc nào trên thế giới hội đủ những đặc điểm của zombie như dân tộc Việt Nam hôm nay. Cũng như bầy zombie luôn nhào đến nơi phát ra nhiều tiếng ồn, dân Việt luôn hùa theo những xu hướng mới nhất, nổi nhất. Cũng như bầy zombie ập đến ăn não người sống, dân Việt đang tiêu diệt, hoặc nuốt chửng và đồng hóa bất cứ ai có tư duy độc lập bằng bệnh vô thức của đám đông. Cũng như bầy zombie triệt tiêu mọi sự phân biệt đẳng cấp dựa trên trí tuệ và cái đẹp, để thay thế bằng một trật tự tuyệt đối bình đẳng của những cái xác ngu như nhau và kinh tởm như nhau, người Việt đang hủy diệt mọi hệ chuẩn mực, giá trị từng góp phần làm nên nhân tính bằng thái độ vô học, cùng những gu thời thượng dễ dãi và hạ cấp lan tràn trong mọi hạng người. Khi trẻ em chỉ biết bắt chước theo những hình mẫu hợp mốt thay vì tự phát triển nhân cách và cá tính độc lập, người lớn chỉ biết ăn và đẻ, còn “giới trí thức” sẵn sàng quẳng não mình xuống đất để có được sự ủng hộ của đám đông, ta biết rằng tiến trình zombie hóa đang tăng tốc.

Đây không phải là lần đầu Việt Nam đối mặt với nạn dịch zombie – tức sự hỗn loạn và suy đồi vì chứng vô thức tập thể. Cách đây chưa lâu, mảnh đất này đã được chứng kiến những đám đông kiêu binh, giặc cướp cuối thời Lê – Trịnh, và những đám đông bần nông đấu tố sau 1954. Lần này, đại dịch đang trở lại dưới những hình thù mới: những xu hướng văn hóa – tư tưởng thời thượng, những “làn sóng dư luận”, những mốt đua đòi rởm sến, và những khẩu hiệu mời mọc dân chúng xuống đường. Tôi thấy tinh thần zombie lan tràn trong nền báo chí tràn ngập những mẩu tin rác, tin vịt và tin vụn, trong những mạng xã hội khuyến khích người ta đọc và viết những điều nông cạn, tủn mủn từ sáng đến đêm, trong thứ nhạc thị trường ăn não và giam rung động cảm xúc ở mức tầm thường, trong nền phim ảnh chẳng có giá trị gì ngoài kích dục và mua nước mắt. Nhưng đó chỉ là vài biểu hiện mà nhiều người có não đã nhận ra, và đã ngán ngẩm. Trong bài này, tôi sẽ phân tích một biểu hiện của dịch zombie mà ít người để ý: hội chứng cuồng hoa văn.

Trong thực tế, hội chứng cuồng hoa văn và nạn dịch zombie hóa là những người bạn đồng hành. Không khó để nhận ra một khác biệt lớn giữa nền mỹ thuật, kiến trúc thời Lý – Trần với giai đoạn Lê-Trịnh và Nguyễn. Đó là trong giai đoạn sau, hoa văn bỗng dưng trở nên to hơn, nhiều hơn, dày đặc hơn và quan trọng hơn, lấn át hẳn những đường nét lớn và bố cục của không gian tổng thể trên công trình, trang phục. Phong cách hài hòa của thời đại cũ mất đi, thay vào đó là khí vị quê mùa, kệch cỡm. Tương tự, khác với cái đẹp Tây hóa chuẩn mực đang dần hình thành ở các đô thị Việt Nam dưới thời thuộc Pháp,  giai đoạn bao cấp cũng chứng kiến sự lộng hành bệnh hoạn của hoa văn. Đây là thời đại của những anh cán bộ cài bông hồng nhựa to đùng trên ngực áo và trên xe đạp, những chăn màn, rèm cửa Trung Quốc lòe loẹt những nét rồng phượng nhà quê, và những trang phục nữ lấy hoa đè người. Tuy nhiên, suốt giai đoạn này và một quãng ngắn liền sau, người ta vẫn bắt gặp vài nét nền nã trong trang phục của ông “Cha già” trên đầu, trong những viên gạch bông lát nền dưới chân, hay trong nét kiến trúc hiện đại kiểu Nga mang màu sắc của những cái lô cốt được dân sự hóa. Từ nửa sau thập kỷ 90, thực tại Việt Nam mới chính thức bị hoa văn nuốt chửng. Vài người tỉnh táo còn sót lại từng tức nổ mắt vì mốt cái nhà ống chằng chịt những họa tiết trang trí lai căng. Người ta ăn cắp các họa tiết của đủ thứ phong cách: baroque, Hồi giáo, Tàu quảng, Nga Sô…, rồi dán nó khắp mặt tiền ngôi nhà của mình một cách chắp vá, thô kệch, quê mùa. Người ta mặc định rằng nhà cửa phải có hoa văn, càng nhiều càng tốt, và càng sặc sỡ càng tốt. Bất chấp sự hài hòa với mặt bố cục, đường nét chính của công trình và với không gian đô thị. Tiếp theo là sự lộng hành của mớ đèn màu trang trí xanh đỏ, nhấp nháy trên đường phố, trong các cửa hiệu, trong phòng khách dịp lễ tết, và thậm chí trên các bàn thờ gia tiên. Ở một số nhà thờ Công giáo, lượng đèn trang trí được treo lên nhiều đến nỗi tôi tự hỏi phải chăng chúng đang nhấp nháy thay cho các thiên thần. Khi cả ánh hào quang của phật Thích Ca, Hồ chủ tịch lẫn các mặt hàng tiêu dùng mới hơn họ đều được thắp bằng đèn trang trí xanh đỏ kết hoa văn, đã đến lúc đặt câu hỏi rằng liệu quốc gia này còn bao nhiêu ánh sáng.

Những mốt xấu xí tân thời là chưa đủ. Người ta còn đang quyên tiền ầm ĩ để phục hưng bản sắc xấu xí của cha ông.  Chịu ảnh hưởng từ trào lưu phục chế hoa văn thời Lê, Nguyễn trên Đại Việt Cổ Phong – một group lịch sử quy tụ nhiều thanh thiếu niên không học sử, dòng truyện tranh dã sử (hay mạo sử?) mới nổi đang dắt nhau lao vào một khuynh hướng buồn cười. Họ sản xuất những bộ truyện sai bét về không gian lịch sử, rỗng tuếch về tư tưởng và hời hợt về nội dung, nhưng dày đặc những họa tiết thời Lê được cầu kỳ tô vẽ và đánh bóng. Ngay cái công thức ăn cắp, chắp vá lai căng mà ông thợ Việt Nam sử dụng để xây nhà ống cũng được các “artist” Việt Nam sử dụng để “sáng tác nghệ thuật”. Khi các tác giả của Thành Kỳ Ý phải ăn cắp nguyên vẹn đoạn tả hoa mai từ một bài trên… báo Dân Trí, và phải nhái các tranh minh họa trang phục cổ Trung Quốc khi vẽ các vua quan Việt Nam, ta có thể khẳng định rằng nền truyện Việt dưới triều Comicola đang được cai trị bởi những con zombie chuyên cướp não.

Có một xu hướng mới đang đưa sự bệnh hoạn lên đỉnh. Đó là dòng “sách tô màu cho người lớn”, được quảng cáo là “liệu pháp chữa trị tâm lý” đang lan tràn trên thị trường sách hai năm trở lại đây. “Liệu pháp tâm lý” mà họ rao bán là gì? Là tô màu những hoa văn bé tí, đặc kịt, lặp đi lặp lại, đôi lúc cắt vụn, làm biến dạng và 2D hóa các khung cảnh thiên nhiên, đời sống. Xem Inside Out, một phim hoạt hình mô tả cách vận hành của tâm trí con người, bạn sẽ thấy trò tô hoa văn này giống hệt một quá trình phá hoại năng lực cảm nhận, suy nghĩ và tưởng tượng của trẻ em mà bộ phim mô tả.

Nếu trò tô hoa văn có tác dụng “điều trị tâm lý”, thì đó là vì nó dần triệt tiêu những năng lực suy nghĩ và cảm nhận mà nhờ đó, bạn có thể biết đến sự trăn trở và nỗi đau. Nó không hướng dẫn bạn đối diện với vấn đề một cách thông minh và mạnh mẽ, nó dụ dỗ bạn tự ve vuốt và ngu hóa mình để lãng quên vấn đề. Đây là một mẹo rất giản đơn: khi bạn biến thành zombie, bạn không có não, không có trái tim, nên cũng không có vấn đề nào để đối mặt.

Nhưng những tác động này của hoa văn do đâu mà có? Câu hỏi đó ta sẽ trả lời sau. Trước hết, phải hiểu rõ hoa văn là gì.

 

II. Bản chất của hoa văn

Trong tiếng Anh, từ để chỉ ‘hoa văn’ là ‘pattern’. Chữ ‘pattern’ đồng thời cũng để chỉ ‘mẫu’, ‘khuôn đúc’. Hiện tượng từ đồng âm khác nghĩa này cho chúng ta thấy đặc tính đầu tiên và quan trọng nhất của hoa văn. Đó là tính lặp đi lặp lại, giống hệt nhau, do được “nhân bản” theo cùng một khuôn mẫu.

Nói một cách dễ hiểu, thì hoa văn là những hình vẽ trang trí nối liền, có cấu trúc lặp đi lặp lại theo một khuôn mẫu không đổi. Cần lưu ý rằng hoa văn không phải là một sản phẩm thuần túy nhân tạo: những idea làm nên nó vốn hiện diện rộng khắp trong thiên nhiên.  Trong tự nhiên, có rất nhiều hiện tượng và sinh vật có cấu trúc hoa văn. Số này bao gồm sóng biển, lốc xoáy, vỏ ốc, sao biển, các loại tinh thể, thủy tức, san hô… Nhiều “hoa văn tự nhiên” – như các loại dây leo có hoa, đã trở thành cảm hứng để con người vẽ nên các hoa văn nhân tạo.

Không khó để nhận ra các “hoa văn tự nhiên” này đều có chung một đặc tính thú vị. Chúng nổi tiếng về khả năng lan tỏa nhiều và nhanh. Chừng nào môi trường sống còn thuận lợi, những hiện tượng và sinh vật này sẽ tự nhân bản, nuốt chửng, đồng hóa mọi thứ xung quanh và lan tỏa không ngừng. Sóng sẽ chiếm trọn mặt biển, lốc xoáy sẽ nuốt không khí để phình to, san hô, thủy tức và nhiều loại ốc nước ngọt sẽ ăn hết môi trường cho đến khi tự nó trở thành môi trường sống cho kẻ khác. Những “hoa văn tự nhiên” này chỉ dừng bước trong hai trường hợp. Một: chúng đã nuốt chửng và đồng hóa hết cái môi trường giúp chúng sinh sôi. Hai: chúng đụng phải những yếu tố khắc chế từ môi trường. Ở đây, ta thấy rằng trong mọi trường hợp, các “hoa văn tự nhiên” luôn giống những môi trường , những dịch bệnh lây lan, hơn là những sinh vật có đời sống riêng, ý chí độc lập và cá tính.

Một tính chất đặc biệt khác của các “hoa văn tự nhiên” là khả năng tự hồi phục đáng kinh ngạc. Nếu bạn đập tan một đợt sóng biển, những làn sóng đến trước và sau nó sẽ lập tức nối liền, và mặt biển cuộn sóng sẽ tái lập y nguyên. San hô, thủy tức và dây leo đều có khả năng tự nhân bản để tự hồi phục ở cấp độ phi thường. Đó là do bản chất “nhân bản theo mẫu” của chúng. Cách duy nhất để tiêu diệt những hiện tượng và sinh vật này là tận diệt toàn bộ, đến tận mẩu nhỏ cuối cùng, để không còn sót lại mẫu nào cho phép chúng sinh sôi. Ở đây, ta có thể nói rằng hoa văn gần như bất tử.

Cái tài bất tử này cũng hiện diện nơi các hoa văn nhân tạo. Các nhà khảo cổ có thể phục chế toàn bộ một mảng hoa văn trang trí từ một mẫu hoa văn duy nhất được lưu giữ vẹn nguyên.

Hai đặc tính tiếp theo của các hoa văn là tính phi tập trung và tính đồng nhất. Hoa văn có tính đồng nhất vì chúng giống hệt nhau – do đó sẽ hành xử như nhau và tác động đến thế giới theo cách như nhau. Hoa văn có tính phi tập trung cũng vì lý do đó: khi mọi đơn vị hoặc cá thể đều giống nhau y hệt, thì tất cả đương nhiên sẽ ngang hàng, bình đẳng, không cái nào quan trọng hơn cái nào, không cái nào quyết định cái nào. Có thể nói rằng chỉ trong một thế giới không có gì khác ngoài hoa văn và các sinh vật hạ đẳng có cấu trúc hoa văn, khẩu hiệu “Bình đẳng – Bình quyền” mới có cơ thành hiện thực.

Vì tính phi tập trung nêu trên, hoa văn không bao giờ được giống “người tinh khôn” – một chủng loài nổi tiếng về hệ thần kinh tập trung và khả năng phân biệt cao thấp bẩm sinh – quá mức coi trọng. Trong mọi hệ thống mỹ thuật chuẩn mực mà con người từng xây dựng, hoa văn luôn chỉ giữ vai trò các chi tiết phụ, để tôn thêm vẻ đẹp cho các đường nét, màu sắc chính và bố cục tổng thể của không gian. Thêm vào đó, hoa văn cũng chỉ giữ chức năng trang trí cho những kiến trúc, vật dụng mà tự nó đã có một công dụng thực tiễn với con người. Chuyện này là đương nhiên, vì nó phù hợp với tâm lý tự nhiên của một giống loài có não, và biết vươn lên cao hơn sự tầm thường của môi trường sống.

Qua đó, chúng ta thấy trò “điều trị tâm lý” bằng cách tô hoa văn, và không gì khác ngoài hoa văn, là một liệu pháp hết sức bệnh hoạn. Nó không hề “điều trị tâm lý”, nó chỉ giết chết tâm lý thông thường của con người có não rồi thay thế bằng cái tâm lý của giống san hô. Cơ chế của nó rất đơn giản: buộc con người lặp đi lặp lại các động tác bao hàm tập tính của san hô – như rập khuôn bắt trước, nhân bản, lan rộng, chiếm lĩnh môi trường và ăn bám – để dần san hô hóa tâm trí con người. Những người-san-hô này không hề vượt qua nỗi đau, họ chỉ bị làm đơ não và ngu đi tới mức không còn khả năng đau nữa.

Hãy nhìn những dân tộc tôn sùng hoa văn một cách đặc biệt. Số này bao gồm các dân tộc thổ dân ở châu Phi, châu Đại dương, Trung Mỹ, đa phần Nam Mỹ, và không ít sắc tộc thiểu số ở nhiều quốc gia. Trong nền mỹ thuật của các dân tộc đó, những hoa văn to bản và lòe loẹt luôn lấn át những đường nét lớn và bố cục tổng thể của không gian. Đôi lúc, họ vận những trang phục “thổ cẩm” chỉ có hoa văn và gần như không có đường nét. Đó thường là các hoa văn mang màu sắc chói gắt đặt cạnh nhau, ngang hàng nhau, không màu nào làm nền cho màu nào hoặc tôn lên màu nào, không phân các mảng chính phụ. Về mặt thẩm mỹ, các mảng màu và họa tiết đó đều bình đẳng, nhưng đương nhiên chúng chẳng ăn nhập gì với nhau. Nhìn chung, những dân tộc có nền mỹ thuật như thế đều có hình thể lùn, xấu, đen, bẩn, và có thói quen sống trong môi trường tồi tàn. Họ không sáng tạo suốt hàng nghìn năm, và chẳng đóng góp được cho nhân loại một di sản nào có ích. Mỗi dân tộc như thế đều là một mẫu vật sống để chứng minh rằng mỹ thuật, năng lực trí não và nhân tính luôn suy thoái song hành. Cũng cần lưu ý rằng trong mọi dân tộc văn minh, những đặc tính mỹ thuật man rợ nêu trên luôn hiện diện ở tầng lớp hạ lưu nhiều hơn thiểu số thượng lưu văn hóa.

Giờ hãy nhìn sang những nền mỹ thuật đáng được gọi là chuẩn mực. Không khó để nhận ra rằng các công trình quan trọng của chúng luôn tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc về bố cục và phối màu. Thêm nữa, cần lưu ý rằng cách sử dụng đường nét, màu sắc và hoa văn trong mọi hệ thống thẩm mỹ chuẩn mực đều truyền tải cho con người những tinh thần tốt đẹp nhất của cái thời đại mà từ đó nó khai sinh. Ở đây, mỹ thuật giúp con người trưởng thành về mặt tâm trí.

Kiến trúc Trung Hoa thời Hán – Đường là một ví dụ. Dễ thấy trong hầu hết các công trình thời đó, những hoa văn dưới và ngang tầm mắt – như họa tiết trên bàn ghế, màn trướng hoặc nan cửa sổ – thường khá giản dị, nền nã và là các nét vuông. Các góc vuông và mảng màu nền nã này có cùng một tác động tâm lý: khiến những người thường xuyên nhìn nó có khuynh hướng sống kỷ luật, tự chế, lịch sự và làm tròn các bổn phận của mình. Trong khi đó, các kiến trúc trên cao, như lầu tháp và mái nhà, lại thường nổi bật với nhiều góc nhọn, đường cong và các họa tiết trang trí rồng phượng tinh xảo. Vì sao lại như vậy? Thứ nhất, là để tâm lý phân định cao thấp được thiết lập rộng khắp trong toàn dân. Thứ hai, là để dành bầu trời và ngôi vị tối cao cho riêng cái mạnh và cái đẹp – những thứ không thể bị giới hạn bởi những lề luật vuông góc của hệ thống thông thường. Trong thực tại kiến trúc Hán – Đường xưa, toàn dân sẽ phải ngẩng đầu nhìn cái mạnh và cái đẹp, cùng những kẻ mạnh mẽ và biết kiến tạo cái đẹp bằng một thái độ tôn kính.

Sau thời Đường, và nhất là vào thời Thanh, chuẩn mực mỹ thuật này gần như mất hẳn. Các hoa văn ngoằn ngoèo, lòe loẹt, to bản được đính nhan nhản lên mọi bộ phận trang phục và kiến trúc của vua quan và hoàng tộc, kể cả những gì ở tầm dưới thắt lưng. Chẳng đáng ngạc nhiên khi nền văn hóa và luân lí Trung Hoa thoái hóa dần. Từ giữa thời Thanh, khi những ông vua nước này từ bỏ tinh thần du mục của lớp cha ông để gia nhập một nền văn hóa chẳng còn gì ngoài những tiểu tiết trang trí màu mè, triều chính Trung Hoa đã rơi hẳn vào tay hai hạng người có bản chất hoa văn: lũ hoạn quan và đám đàn bà cung đấu.

Kiến trúc Gothic kể chúng ta nghe một câu chuyện buồn khác. Khi trước, bảy ngày một lần, cả châu Âu tề tựu dưới những mái vòm cao vút mô phỏng đường nét của hoa loa kèn, và những tháp chuông nhọn đốt lửa giữa trời xanh. Mỗi cây cột, mỗi cửa sổ đều ca tụng sự thanh thoát và chiều cao. Ngang tầm mắt người, không có gì ngoài những đường thẳng đứng. Thời đó, châu Âu tôn làm Chúa trời những tinh thần của nét thẳng, hoa loa kèn và ngọn lửa: sự thật, sức mạnh, cái đẹp tinh khiết, lòng cam đảm, sự ngay thẳng, lòng trung thành và tinh thần cao thượng. Giờ thì ngay cả cái đẹp nhục cảm thần thánh của thời baroque cũng đã nhạt phai, để nhường chỗ cho những kiến trúc hiện đại của bê tông và kính. Cửa sổ vuông, nền gạch vuông, màn hình vuông, và văn phòng hơn một mét vuông – không có gì ngang tầm mắt, trên đầu và dưới chân ngoài những hoa văn vuông lặp đi lặp lại. Trong thời đại kiến trúc này, toàn dân là những con tốt ngang hàng trên một bàn cờ toàn những luật lệ vuông vức – nơi mà chỉ bàn cờ là kẻ thống trị, còn mọi người đều được tự do đứng trong duy nhất một ô vuông. Quý hóa thay, khi những con người bình đẳng này được tự do triệt hạ lẫn nhau để giành giật ô vuông của kẻ khác – đương nhiên là theo luật chơi của bàn cờ, và chỉ để được tiếp tục đứng trên bàn cờ. Người ta gọi cái bàn cờ này là trật tự xã hội văn minh, còn tôi ngờ rằng đây là một trò chơi zombie hóa của một xã hội phương Tây đang man rợ hóa. Bởi trong trò chơi này, con người không tự do: chỉ có dục vọng được tự do ngự trị. Bởi vì cái đẹp, lòng trung thành, sự cao thượng và sự mạnh mẽ đang dần biến mất, để nhường chỗ cho sự tầm thường phổ cập, sự hèn nhát phổ cập, sự bội ước phổ cập và lời ca ngợi mưu kế tiểu nhân.

Nên nhớ bàn cờ này chỉ xuất hiện và bành trướng từ ngày tàu buôn phương Tây cập bến các nước thuộc địa man rợ. Cũng như La Mã từng sụp đổ vì lề thói bệnh hoạn của các sắc dân man rợ được cấp quyền công dân, phương Tây đang thoái hóa theo nhịp lây lan của Nhân quyền và nhịp tiến quân của các hạm đội Mỹ.

Giờ hãy nhìn toàn cảnh. Chúng ta đã liệt kê đặc tính của hoa văn. Đó là giống hệt nhau; lặp đi lặp lại; khả năng đồng hóa và lan tỏa đáng kinh ngạc; gần như bất tử; mang bản chất là một môi trường, hoặc dịch bệnh có khả năng lây nhiễm thay vì những cá thể độc lập có tư duy, ý chí và bản sắc riêng; “bình đẳng bình quyền”; trái nghịch với đặc tính của hệ thần kinh người, nhưng hệt như tập tính tự nhiên của một tập đoàn các sinh vật bậc thấp. Tất cả những đặc tính này gợi hình ảnh gì trong đầu các bạn? Tôi thấy nọc zombie.

Qua loạt ví dụ về kiến trúc kể trên, ta đã biết rằng cách sử dụng hoa văn xuất phát từ tâm lý con người, và sẽ định hình lại tâm lý con người. Chẳng đáng ngạc nhiên, khi sự lộng hành của hoa văn báo hiệu một đại dịch zombie hóa.

Nguyễn Vũ Hiệp


About


'CUỘC XÂM LƯỢC CỦA HOA VĂN TRONG TIẾN TRÌNH ZOMBIE HÓA' has no comments

Be the first to comment this post!

Would you like to share your thoughts?

Your email address will not be published.

@COPYRIGHT KIỂM DỊCH. ALL RIGHTS RESERVED.